68. Mông Sơn Thí Thực Điệp

 

Nguyên văn:

 

蒙山施食牒

 

金山法施大齋壇

伏以

太極無極、玄中自玄、有先天後天、道外本無道、佛卽人人卽佛、空是色色是空。

痛惟、隻影孤魂、孑身饑鬼、游息叢根鬱樹、幽都寂寞幾辰春、徃來淡月淒風、長夜冥茫何日旦、閃若夜螢而自炤、飄然月鵲之無依、山腰水面娑婆、雙脚流離無定影、魚腹鴉膓苦惱、半空黯淡有啼聲、永念沉迷、殊深感慨。今據

大南國...府縣社居奉

...。今齋主...等、顓爲度陰保陽事、謹取今月某日、須仗禪流、就于某處、啟建某事、法壇開...晝霄、周圓而散。今則科範按行、工夫圓滿、仍具可餐之品、大開廣施之塲、爲此合行、具牒一道上達

三十六部鬼王案下、仰其炤詳前項事因、默替慈悲之化、祇稟慈光敎敕、妙參濟之功、凡係一切孤魂、多方衆鬼、已度未度、有依無依、幷計欽奉

佛恩、飽飡齋供、毋得恃强、凌弱爭奪、混殽俾伊等衆、均蒙薦拔之功、咸遂歸依之樂、這係功德重事、火速奉行。須至牒者。

右牒上

三十六部鬼王案下施行。

歲次日辰牒

 

Phiên âm:

 

MÔNG SƠN THÍ THỰC ĐIỆP

 

KIM SƠN1 PHÁP THÍ CHẨN TẾ ĐẠI TRAI ĐÀN

Phục dĩ

Thái Cực2 Vô Cực,3 huyền4 trung tự huyền; hữu tiên thiên5 hậu thiên,6 đạo ngoại bổn vô đạo; Phật tức nhân nhân tức Phật, không thị sắc sắc thị không.

Thống duy: Chích ảnh cô hồn, kiết thân Ngạ Quỷ; du tức tùng lâm uất thọ, u đô tịch mặc kỉ thần xuân; vãng lai đạm nguyệt thê phong, trường dạ minh mang hà nhật đán; thiểm nhược dạ huỳnh nhi tự chiếu, phiêu nhiên nguyệt thước chi vô y; sơn yêu thủy diện ta bà, song cước lưu ly vô định ảnh; ngư phục nha trường khổ não, bán không ảm đạm hữu đề thanh; vĩnh niệm trầm mê, thù thâm cảm khái.

Kim cứ: Đại Nam Quốc … phủ huyện xã cư phụng Phật … Kim trai chủ … đẳng, chuyên vị độ âm bảo dương sự, cẩn thủ kim nguyệt mỗ nhật, tu trượng Thiền lưu, tựu vu mỗ xứ, khải kiến mỗ sự, pháp đàn khai … trú tiêu, châu viên nhi tán. Kim tắc khoa phạm án hành, công phu viên mãn; nhưng cụ khả xan chi phẩm, đại khai quảng thí chi trường; vi thử hợp hành, cụ điệp nhất đạo thượng đạt:

Tam Thập Lục Bộ Quỷ Vương án hạ. Ngưỡng kỳ chiếu tường tiền hạng sự nhân, mặc thệ từ bi chi hóa; kỳ bẩm từ quang giáo sắc, diệu tham Chẩn Tế chi công; phàm hệ nhất thiết cô hồn, đa phương chúng quỷ, dĩ độ vị độ, hữu y vô y, tinh kế khâm phụng Phật ân, bão xan trai cúng, vô đắc thị cường, lăng nhược tranh đoạt; hỗn hào tỉ y đẳng chúng, quân mông tiến bạt chi công, hàm toại quy y chi lạc; giá hệ công đức trọng sự, hỏa tốc phụng hành. Tu chí điệp giả.

HỮU ĐIỆP THƯỢNG

Tam Thập Lục Bộ Quỷ Vương án hạ thi hành.

Tuế thứ mỗ niên mỗ nguyệt mỗ nhật thần điệp.

 

Dịch nghĩa:

ĐIỆP CÚNG MÔNG SƠN THÍ THỰC

 

Kim Sơn Pháp Thí Chẩn Tế Đại Trai Đàn

Cúi nghĩ:

Thái Cực Vô Cực, trong huyền lại huyền; có tiên thiên hậu thiên, ngoài đạo vốn không đạo; Phật tức người người tức Phật, không là sắc sắc là không.

Xót nghĩ: Một bóng cô hồn, đơn thân quỷ đói; thẩn thờ gốc cây bụi rậm, tối tăm vắng vẻ lúc nào xuân; đến đi trăng nhạt gió buồn, đêm dài mênh mang ngày nào tỏ; leo lét đóm đêm mà tự sáng, bồng bềnh chim khách biết nương đâu; sườn non mặt nước trọi trơ, lê bước lênh đênh không định ảnh; bụng cá ruột quạ khổ não, tầng không ảm đạm tiếng kêu than; mãi bị chìm mê, tận cùng cảm khái.

Nay vâng: xã … huyện … phủ … nước Đại Nam, thờ Phật … Nay việc trai chủ … chuyên vì cứu độ âm dương, chọn lấy ngày nầy tháng ấy, nương sức chúng tăng, đến nơi chốn ấy; kiến lập việc ấy, pháp đàn mở … đêm ngày, trọn vẹn hoàn mãn. Nay lúc khoa nghi tiến hành, công phu viên mãn; luôn đủ món ăn vật phẩm, mở bày bố thí đàn tràng; vì đây tiến hành, đủ điệp một phong dâng đến:

Ba Mươi Sáu Loại Quỷ Vương chứng giám cho. Ngưỡng mong xét soi việc trước nguyên do, thầm giúp từ bi tiếp hóa; vâng mệnh hào quang giáo chỉ, góp phần chẩn tế công năng; phàm là hết thảy cô hồn, nhiều phương quỷ chúng; đã độ chưa độ, có nương chưa nương; đều thảy vâng kính Phật ơn, ăn no chay cỗ; không được giành giựt, ép yếu tranh đoạt; hỗn hào kia đây các chúng, đều nhờ hiến cúng công năng, thảy được quy y an lạc; việc trọng công đức như vậy, mau chóng vâng làm. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Dâng

Ba Mươi Sáu Loại Quỷ Vương chứng giám thi hành.

Điệp ghi lúc … ngày … tháng … năm …

 

Chú thích:

  1. Kim sơn (金山): núi vàng, từ nầy được dùng để ví dụ cho thân Phật; như trong Phẩm Tựa của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) có câu: “Thân sắc như kim sơn, đoan nghiêm thậm vi diệu (身色如金山端嚴甚微妙, thân màu như núi vàng, đoan nghiêm thật vi diệu).” Hay trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 27, phẩm Hướng Bồ Đề Thọ (向菩提樹品), còn có câu: “Thử tất thiên quang tân nhật xuất, uy đức chiếu diệu như kim sơn, lân mẫn nhất thiết chư thiên nhân, tạm đáo thọ vương như sư tử (此必千光新日出威德照耀如金山憐愍一切諸天人漸到樹王如師子, đây ắt hào quang trời mới mọc, oai đức chiếu tỏa như núi vàng, thương xót hết thảy các trời người, tạm đến dưới cây như sư tử).” Hoặc trong Đại Phương Đẳng Đà La Ni Kinh (大方等陀羅尼經, Taishō Vol. 21, No. 1339) quyển 1, lại có đoạn: “Thế Tôn thân sắc như kim sơn, do như nhật quang chiếu thế gian, năng bạt nhất thiết chư khổ não, ngã kim khể thủ đại Pháp vương (世尊身色如金山猶如日光照世間能拔一切諸苦惱我今稽首大法王, Thế Tôn thân màu như núi vàng, giống như mặt trời chiếu thế gian, có thể bạt trừ các khổ não, con nay cúi lạy đấng Pháp vương).” Kim sơn còn chỉ cho núi vàng bảy tầng ở chung quanh Tu Di Sơn (s, p: Sumeru, 須彌山).
  2. Thái Cực (太極): có hai nghĩa chính. (1) Các triết học gia cổ đại gọi Thái Cực là khí hỗn độn lúc ban đầu. Khi Thái Cực vận động thì phân hóa thành âm dương; từ âm dương mà sinh ra 4 thời biến hóa (Xuân, Hạ, Thu, Đông), từ đó xuất hiện các loại hiện tượng tự nhiên, và đó là nguồn gốc của vạn vật vũ trụ. Như trong Dịch Kinh (易經), Hệ Từ Thượng (繫辭上), giải thích rằng: “Dịch hữu Thái Cực, thị sanh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh Bát Quái (易有太極、是生兩儀、兩儀生四象、四象生八卦, Dịch có Thái Cực, sanh ra Lưỡng Nghi [âm dương], Lưỡng Nghi sanh ra Tứ Tượng [Xuân, Hạ, Thu, Đông], Tứ Tượng sanh ra Bát Quái [Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Li, Khôn, Đoài]).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: Thái Cực vị thiên địa vị phân chi tiền, nguyên khí hỗn nhi vi nhất, tức thị Thái Sơ, Thái Nhất dã (太極謂天地未分之前,元氣混而爲一,卽是太初、太一也, Thái Cực nghĩa là trời đất trước khi chưa phân chia, nguyên khí hỗn tạp mà thành một, tức là Thái Sơ, Thái Nhất vậy).” (2) Chỉ thiên cung, cõi tiên. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) quyển 8 có đoạn: “Thái Cực hữu Nguyên Cảnh chi vương, ty nhiếp tam thiên chi thần tiên giả dã (太極有元景之王、司攝三天之神仙者也, thiên cung có vua Nguyên Cảnh, là người cai quản thần tiên của ba cõi trời).”
  3. Vô Cực (無極): có hai nghĩa chính. (1) Vô cùng tận, không biên giới. Như trong Tả Truyện (左傳), chương Hy Công Nhị Thập Tứ Niên (僖公二十四年), có câu: “Nữ đức vô cực, nữ oán vô chung (女德無極、女怨無終, đức của người nữ không cùng, nỗi oán hờn của người nữ không tận).” Hay trong bài Phụng Hòa Đậu Dung Châu (奉和竇容州) của Nguyên Chẩn (, 779-831) nhà Đường cũng có đoạn: “Tự thán phong ba khứ vô cực, bất tri hà nhật hựu tương phùng (自歎風波去無極、不知何日又相逢, tự than phong ba đi hoài mãi, biết đến ngày nao lại trùng phùng).” (2) Các triết học gia cổ đại Trung Quốc cho rằng Vô Cực là bản nguyên hình thành vũ trụ vạn vật; vì nó không hình tượng, không âm thanh cũng như màu sắc, vô thỉ vô chung, chẳng thể nào đặt tên, nên gọi là Vô Cực. Trong tác phẩm Thái Cực Đồ Thuyết (太極圖說) của Châu Đôn Di (周敦頤, 1017-1073) nhà Tống giải thích rằng: “Vô Cực nhi Thái Cực, Thái Cực động nhi sanh dương, động cực nhi tĩnh, tĩnh nhi sanh âm, … âm dương nhất Thái Cực dã, Thái Cực bổn Vô Cực dã (無極而太極、太極動而生陽、動極而靜、靜而生陰陰陽一太極也、太極本無極也, Vô Cực mà Thái Cực, Thái Cực động thì sanh ra dương, động đến tận cùng thì tĩnh, tĩnh thì sanh âm, … âm dương hợp nhất là Thái Cực, Thái Cực vốn là Vô Cực vậy).”
  4. Huyền (): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Trong Dịch Kinh (易經), chương Khôn (), có câu: “Thiên huyền nhi địa hoàng (天玄而地黃, trời đen mà đất vàng).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Thiên sắc huyền, địa sắc hoàng (天色玄、地色黃, trời màu đen huyền, đất màu vàng).” Về sau, từ huyền được dùng để chỉ cho trời. (2) Chỉ cho phương Bắc, thuộc về hướng Bắc. (3) Thâm áo, huyền diệu. Như trong Lão Tử (老子) có câu: “Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn (玄之又玄、眾妙之門, thâm áo lại càng thâm áo, cửa của các mầu nhiệm).” Lão Tử còn cho “huyền chi hựu huyền” là đạo (); nhân đó sau nầy tư tưởng nầy trở thành học thuyết của Đạo gia. Hay trong tác phẩm Ngũ Quân Vịnh (五君詠), phần Hướng Thường Thị (向常侍), của Nhan Duyên Chi (顏延之, 384-456) nhà Tống thời Nam Triều, lại có đoạn: “Thám đạo háo uyên huyền, quán thư bỉ chương cú (道好淵玄、觀書鄙章句, tìm đạo thích thâm áo, xem sách ghét câu chữ).” (4) Chỉ đạo lý thâm áo, huyền diệu. (5) Các triết học gia cổ đại Trung Quốc dùng từ nầy để chỉ cho bản thể của vũ trụ. Như trong tác phẩm Thái Huyền (太玄), phần Ly (), của Dương Hùng (揚雄, 53-18 ttl.) nhà Hán, có đoạn: “Huyền giả, u ly vạn loại nhi bất kiến hình giả dã (玄者、幽攡萬類而不見形者也, huyền [bản thể vũ trụ] nghĩa là trùm khắp muôn loài mà không thấy hình vậy).” Câu “huyền trung tự huyền (玄中自玄)” ở lòng văn Sớ trên vốn phát xuất từ học thuyết “huyền chi hựu huyền (玄之又玄)” của Đạo gia.
  5. Tiên thiên (先天): có mấy nghĩa. (1) Chỉ bản thể của vũ trụ, bản nguyên của vạn vật. (2) Chỉ thời kỳ phôi thai của con người hay động vật. (3) Chỉ trời đất thuở ban đầu, có sẵn từ lúc sinh ra.
  6. Hậu thiên (後天): có mấy nghĩa. (1) Chỉ thời kỳ sinh trưởng sau khi rời khỏi mẫu thai của động vật hay con người. (2) Chỉ cái gọi là dịch () do Hoàng Đế (黃帝) sáng tác trong truyền thuyết. (3) Chỉ hậu điện, nơi đọc sách của các Hoàng tử, vương công đời nhà Thanh. (4) Chỉ phụ nữ tái giá.